Sự kiện

Hàng tái nhập bị nước ngoài trả lại có phải nộp thuế giá trị gia tăng?

Ngày tạo: 27/07/2026Ban Quản trị BKHUB6 phút đọc
image
  Cục Hải quan vừa ban hành văn bản hỏa tốc hướng dẫn xử lý thuế giá trị gia tăng đối với hàng xuất khẩu bị nước ngoài trả lại, làm rõ điều kiện không chịu thuế khi doanh nghiệp thực hiện theo hình thức tạm nhập - tái xuất.

Liên quan đến thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất, tại khoản 1 Điều 29 Luật Thương mại số 36/2005/QH11quy định: “Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam”.

Tại khoản 1 Điều 48 Luật Hải quan năm 2014 quy định về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu nêu rõ: “Các loại hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu bao gồm: Phương tiện quay vòng để chứa hàng hóa; máy móc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp để phục vụ công việc trong thời hạn nhất định; máy móc, thiết bị, phương tiện thi công, khuôn, mẫu theo các hợp đồng thuê, mượn để sản xuất, thi công; linh kiện, phụ tùng của chủ tàu nhập khẩu để phục vụ thay thế, sửa chữa tàu biển, tàu bay nước ngoài; hàng hóa tham dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm; hàng hóa khác theo quy định của pháp luật”.

Khoản 1 Điều 41 Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 quy định các hình thức tạm nhập, tái xuất khác:“Trừ trường hợp kinh doanh tạm nhập, tái xuất quy định tại Điều 39 của Luật này, thương nhân được tạm nhập vào Việt Nam hàng hóa không thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất nhập khẩu; hàng hóa không thuộc diện tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theo hợp đồng với nước ngoài để phục vụ mục đích bảo hành, bảo dưỡng, thuê, mượn hoặc để sử dụng vì mục đích khác trong một khoảng thời gian nhất định rồi tái xuất chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam”.

Ngoài ra, tại khoản 28 Điều 1 Nghị định số 167/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 50 Nghị định 08/2015/NĐ-CP quy định thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm xuất, tái nhập và hàng hóa tạm nhập, tái xuất; khoản 25 Điều 1 Nghị định số 167/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 47 Nghị định 08/2015/NĐ-CP; Điều 15 Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý ngoại thương quy định cũng đã nêu rõ các hình thức tạm nhập, tái xuất khác.

Đối chiếu với các quy định hiện hành, theo Cục Hải quan, trường hợp hàng hóa đã xuất khẩu nhưng được tái nhập khẩu vào Việt Nam để sửa chữa, tái chế, bảo hành hoặc xử lý theo quy định pháp luật về hải quan được thực hiện theo các văn bản hướng dẫn có liên quan.

Về chính sách thuế giá trị gia tăng, quy định hiện hành được xác định thống nhất trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Cụ thể, Điều 3 Luật thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 quy định nguyên tắc chung đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam đều thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 5.

Đối với các nhóm đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng, khoản 1 Điều 5 Luật thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 149/2025/QH15 áp dụng cho các sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản chưa qua chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu tự sản xuất, đánh bắt bán ra và khâu nhập khẩu.

Bên cạnh đó, theo khoản 20 Điều 5 Luật thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 và khoản 12 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, hàng hóa tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và hàng tạm xuất, tái nhập cũng thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng.

Liên quan đến mức thuế suất, khoản 3 Điều 9 Luật thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 quy định áp dụng mức 10% đối với các hàng hóa, dịch vụ thông thường, bao gồm cả dịch vụ thương mại điện tử và nền tảng số do nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam thực hiện.

Hàng tái nhập bị nước ngoài trả lại có phải nộp thuế giá trị gia tăng? Ảnh minh họa. Ảnh hỗ trợ bởi AI

Cuối cùng, nhằm làm rõ tiêu chuẩn áp dụng, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP đã quy định chi tiết các hình thức sơ chế thông thường đối với sản phẩm nông - lâm - thủy sản, đồng thời xác định rõ trách nhiệm phối hợp của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc thẩm định quy trình sản xuất khi có phát sinh vướng mắc.

Đối chiếu với các quy định hiện hành theo Cục Hải quan, hàng hóa nhập khẩu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng tại Việt Nam thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ trường hợp thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 5 Luật thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15.

Đối với hàng hóa đã xuất khẩu nhưng bị nước ngoài trả lại: Trường hợp hàng hóa tái nhập theo hình thức tạm nhập - tái xuất đáp ứng quy định về pháp luật hải quan, pháp luật thương mại, pháp luật về quản lý ngoại thương và thuộc trường hợp quy định tại khoản 20 Điều 5 Luật thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15, khoản 12 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP thì thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Trường hợp hàng hóa tái nhập không thuộc trường hợp tạm nhập - tái xuất thì thực hiện kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định pháp luật về thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Đối với hàng hóa là sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu nhập khẩu thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế Giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 149/2025/QH15 và khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP.

Cục Hải quan đề nghị các chi cục hải quan khu vực nghiên cứu quy định của pháp luật về hải quan và pháp luật về thuế giá trị gia tăng để thực hiện. Trong quá trình thực hiện phát sinh vướng mắc vượt thẩm quyền, đề nghị các đơn vị tổng hợp, báo cáo Cục Hải quan để trả lời thống nhất.

Theo Hàng tái nhập bị nước ngoài trả lại có phải nộp thuế giá trị gia tăng? (Tác giả: Nụ Bùi)